Thực Dưỡng Ohsawa

Ăn có ý thức. Nấu có trách nhiệm


Leave a comment

Sữa Thảo Mộc (KOKKOH)

Kokko là món bồi dưỡng, tăng sức cho cơ thể người lớn và trẻ em nhất là phụ nữ mang thai. Kokkoh dùng thay sữa mẹ nếu không đủ cho con bú.

Thành phần: Gạo lứt, kê, ý dĩ, hạt sen lứt, các loại đậu và mè.

Cách dùng: Cho 2-3 thìa cà phê sữa vào ly, chế nước sôi và quấy tan, nêm muối mè, muối hầm, tương miso, bơ mè, hoặc chút đường đen. Trẻ con sơ sinh đến 2 tuổi phải nấu trên bếp 5 -15′ cho bột nở.

Bột Kokkoh – sữa thảo mộc. Món bổ dưỡng cho tất cả mọi người, nhất là phụ nữ mang thai.

 

 




Leave a comment

MISO và Công dụng của Miso

Công dụng: Tăng cường sinh lực, khử độc cho rau củ, tốt cho tim, tê bại, tiểu đường, mỡ trong gan – máu, tái tạo men ruột, và các bệnh u nhọt,…

Thành phần: Đậu nành, muối hột và nước sạch.

Cách dùng: Ăn với cơm. Cháo, xào rau, nấu canh thay muối, độ đạm cao.

Miso- loại gia vị lên men có vị mặn, đậm đà, là nét đặc trưng cơ bản trong chế biến thức ăn của Nhật Bản, được cho bắt nguồn từ trung quốc vào khoảng thế kỷ thứ 4 trước công nguyên và được biết đến tại Nhật từ thế kỷ thư 7 bởi những nhà sư Phật giáo, trở thành một phần không thể thiếu trong chế độ ăn kiêng của các Samurai.  Theo truyền thống, người Nhật thường bắt đầu một ngày mới với một bát canh Miso được nấu tại nhà, ngoài ra thi miso cũng được dùng để nấu các món ăn khác trong bữa cơm thường ngày của người Nhật. Để làm Miso thì người ta thường dùng đậu nành hay các loại ngũ cốc khác như gạo, lúa mì… trộn lẫn với muối và men Miso, sau đó, cho hỗn hợp vào thùng làm từ gỗ tuyết tùng, ủ từ 1 đến 3 năm. Quá trình làm Miso rất phức tạp và đòi hỏi nhiều kinh nghiệm nên ít có ai tự chế tại nhà. Việc bổ sung các thành phần khác nhau và sự thay đổi thời gian lên men giúp cho Miso trở nên đa dạng với rất nhiều hương vị, màu sắc, hương thơm …

Miso rất có lợi cho sức khỏe, nó có chứa:
– isoflavones:  khoảng 20mg/100g- được xem là estrogen thảo mộc, có khả năng mãnh liệt chống lại các tác dụng gây nên chứng ung thư liên hệ đến hormone;
– saponin: có khả năng trực tiếp ngăn cản sự phát triển ung thư kết tràng và đồng thời làm giảm lượng cholesterol trong máu;
– protein đậu nành: có khả năng ngăn ngừa sự tác động của một số gene di truyền gây nên chứng ung thư. Nó cũng bảo vệ các tế bào cơ thể không cho hư hại gây nên bởi những môi trường sống xung quanh như tia nắng mặt trời và các chất ô nhim trong không khí.
– các vi khuẩn enzyme sống có lợi ….
Theo một nghiên cứu được công bố năm 2003 thì những người phụ nữ tiêu thụ nhiều hơn 3 bát canh Miso một ngày thì nguy cơ bị ung thư vú giảm được hơn 40 % so với những người chỉ ăn một bát. Tại Nhật Bản tỷ lệ chết về bệnh ung thư vú chỉ bằng một phần tư Hoa Kỳ, tại Trung Hoa là 1/5 và ở Hàn Quốc là 1/10. Chỉ có 10% phụ nữ Nhật Bản có hiệu chứng nóng phừng (hot flash) vào thời kỳ mãn kinh và tỷ lệ bị bệnh bể xương hông thấp hơn phụ nữ Hoa Kỳ. Chỉ có một điều đáng lo ngại là hàm lượng muối của Miso hơi cao.
Các loại Miso

Có rất nhiều loại Miso, cơ bản là đều được pha trộn từ kọi với gạo, lúa mì hoặc đậu nành. Các thành phần được cho vào thùng gỗ và cho lên men, một số loại Miso có vị ngọt nhẹ chỉ cần ủ lên men trong vài tháng trong khi những Miso đậm màu thời gian ủ thường lên tới 2 năm.
Mua và sử dụng Miso

Miso thường không có sẵn ở siêu thị mà thường được bày bán tại các cửa hàng thực phẩm, các cửa hàng chuyên bán các loại gia vị Á Đông. Miso có rất nhiều màu sắc, từ màu trắng kem tới màu đỏ, màu nâu sẫm…loại nhạt màu là lý tưởng nhất cho món súp hay các dùng làm nước sốt.
Miso thường được đóng gói trong các bao bì nhựa hoặc các loại chai thủy tinh, một số nhà sản xuất không đóng kín gói thành phẩm mà để một lỗ thông hơi nhỏ. Miso thường ở dạng đặc sệt nên trước khi sử dụng thì phải pha loãng với một chút nước. Để bảo toàn nguyên vẹn hương vị tinh tế của miso thì người ta không nấu chín cùng với thực phẩm mà thường thêm vào lúc gần chín để món ăn trở nên đậm đà. Gói Miso có thể tiếp tục bảo quản bằng tủ lạnh trong vài tháng khi không dùng hết.

Món canh Miso:

Hầu hết các loại Miso được sản xuất tại Nhật đều được dùng để chế biến món canh Miso. Uống canh Miso là một thói quen lâu đời của người Nhật và vẫn được yêu thích cho đến ngày nay bởi  hương vị thanh nhẹ đậm đà, thời gian chuẩn bị ngắn và đặc biệt là vì những lợi ích mang lại cho sức khỏe. Đối với người Nhật thì Miso và Canh miso là từ đồng nghĩa, và khi cách đây 750 năm, khi những Samurai lên nắm quyền thì món canh này càng trở nên phổ biến và mọi người đều rõ làm thế nào để có món canh Miso.

Một bát súp miso thường đơn giản chỉ có miso hòa tan trong nước dùng dashi, nấu súp miso vừa sôi, quấy cho miso tan hết vào nước dùng, nếu nhạt thì cho thêm một chút xì dầu.  sau đó bỏ thêm vài miếng đậu phụ tươi nhỏ và rắc thêm ít hành lá. Khi cầu kì nấu nước dashi từ chính lá rong biển thì trong bát súp còn có thêm mẩu rong biển nữa.

Thỉnh thoảng nấu một bát súp thanh ngọt, nhẹ nhàng thế này đem lại cảm giác rất thư thái cho bữa ăn. Với món súp này, ăn cùng với chút cơm trắng là mình thấy bữa ăn trọn vẹn rồi.


Leave a comment

Bột Sắn Dây

Loại tinh bột này lợi ích cho các bệnh: đường ruột, thương hàn, chậm tiêu, kiết tả, lao nhiệt, mất ngủ, giải độc, say rượu, …

Trẻ em, người lớn đều dùng tốt.

Nếu giải nhiệt cho cơ thể, lúc trời nóng bức – nhất là vận động ngoài trời nóng hoặc các vận động viên thể thao: Quậy bột với nước sôi để nguội, đem lại sức khỏe dẻo dai.

Sắn dây là loại bột trắng như phấn, thu hoạch từ cây sắn dây leo, được trồng ở những vùng đồi núi hoang. Rễ cây sắn dây được thu hoạch vào cuối đông, khi chất lượng bột cao nhất. Sau đó, rễ sắn dây được xát thành bột. Sau khi lọc những mảnh xơ và làm cho cạn khô, lớp bột lắng lại được xắn thành các khoanh không đều nhau, rồi được hoà tan vào nước lạnh. Khi đun sôi, ta có bột sắn dây quánh lại mờ đục, đun tiếp bột trở nên đặc dần và trong mờ.

Bột sắn đun chín có thể chữa đau bụng và loét dạ dày viêm ruột kết, kể cả bệnh kinh niên. Hỗn hợp bột sắn dây – ô mai – gừng – tương chữa các bệnh nhiễm khuẩn và virut, nó giúp phòng chống bệnh rối loạn đường ruột, dạ dày và nhiễm trùng máu. Vì những rối loạn có thể dẫn đến thối ruột hay phá hoại phát sinh bệnh ở các cơ quan vi mô, giá trị của ô mai và hỗn hợp bột sắn – ô mai – gừng – tương không thể thiếu.

Ảnh hưởng của chúng trong việc giúp đỡ cơ thể khắc phục sự rối loạn từng đợt làm cho những loại bệnh này là một phần quan trọng của chương trình tự chăm sóc bảo vệ sức khoẻ.

Bột sắn dây là loại thức uống dân dã và quen thuộc có tác dụng giải nhiệt rất tốt trong mùa hè. Đây còn là vị thuốc chữa cảm nắng, sốt cao rất công hiệu. .

Về thành phần dinh dưỡng, trong 100g bột sắn dây có 14g nước, 0,7g protit, 84,3g gluxit, 0,8g xenlucoza, 18mg canxi, 20mg photpho, 1,5mg sắt… Vì vậy, mùa hè sau những giờ lao động mệt nhọc hoặc đi ngoài nắng về, được uống một cốc nước bột sắn ta thấy mát, dễ chịu, người đỡ mệt hẳn.

Ngoài giá trị dinh dưỡng, sắn dây còn là một vị thuốc giải nhiệt, giải khát tốt vẫn được Đông y dùng chữa các chứng cảm nắng, cảm nóng, sốt cao, khát nước… từ lâu đời.


Leave a comment

TRÀ CỦ SEN


Công dụng: Trà củ sen làm mát huyết và rất bổ phổi, an thần, gây cảm giác khoan khoái, dễ chịu; phòng trị các bệnh về phổi, ho cảm, viêm phế quản, ho suyễn, lao phổi, u phổi, ho cường tính, …

Cách dùng: chữa ho, bổ phế: bỏ 10-20 trà đun nhỏ lửa 15’, cho thêm 3 lát gừng mỏng(nướng cháy vỏ) bỏ thêm chút muối hầm. Uống nóng xong toát mồ hôi ra là tốt nhất.

Trà củ sen là một thứ trà kiềm dương, rất tốt cho sức khỏe và thiền.

Củ sen chứa nhiều chất dinh dưỡng như các protêin và vitamin C. Củ sen chưa nấu chín có thể làm giảm nhiệt bên trong mạch máu và làm giảm thâm tím. Củ sen nấu chín có thể giúp tăng cường chức năng tim và dạ dày, …
Củ sen có vị bùi, giòn có thể ăn sống hoặc nấu chín tùy theo khẩu vị của mỗi người.
Theo Trung y, muốn trị bệnh máu cam hiệu quả tốt nhất là ăn củ sen vì củ sen có tác dụng làm mát máu, mát gan, điều hòa kinh mạch, lưu thông khí huyết. Củ sen còn là món ăn giàu dinh dưỡng, tăng cường chức năng của tim, bao tử và cho
giấc ngủ tốt.


Leave a comment

MUỐI và Công dụng của muối

Theo y học cổ truyền, Muối ăn không độc, đi vào ba kinh: Thận, tâm, vị. Có tác dụng thanh tâm, lương huyết nhuận táo, tả hỏa và dẫn các chất vào kinh lạc.

Khoa học hiện đại cho rằng, Muối ăn có vai trò quan trọng trong việc duy trì áp suất thẩm thấu của nội môi trường.

Về phương diện sinh lý học thì song song với việc giảm Natri trong máu là sự tăng tỷ lệ Kali, dẫn tới quân bình chất đạm bị phá hủy và lượng ure trong máu tăng lên, sức lực cơ bắp giảm sút, nên hay bị bọp vẻ(chuột rút), khó thở,….

Chính vì vậy, trong thực đơn hàng ngày không thể thiếu muối được!

Điều đáng lo ngại là hầu hết muối ăn ngày nay là muối tinh, do đã loại hết các thành phần khoáng khác, chỉ còn lại NaCl thuần túy(99%).

Vì vậy chỉ dùng một lượng thích đáng cũng có thể gây rối loạn chức năng sinh lý và các tác hại khác cho cơ thể.

Gần đây Tây y còn kêu gọi giảm lượng muối trong khẩu phần ăn, cấm ăn muối đối với bệnh cao huyết áp, bệnh thận,…thậm chí cho rằng ăn muối có thể gây ung thư!

Chúng ta hãy tìm hiểu nguyên nhân của những hiện tượng trên là do đâu:

Khoa học đã xác nhận: tỷ lệ các thành phần muối khoáng trong người rất giống nước biển! Mà muối là tinh hoa của biển cả, vì vậy ăn muối mà bị độc hại là điều cần phải xem xét lại!

Muối - là tinh hoa của Biển cả và rất giống với thành phần của máu người

Theo quan điểm truyền thống thì muối ăn phải là muối thiên nhiên, mà thành phần chủ yếu của nó ngoài yếu tố là Natri còn có 20 loại chất khoáng khác như I, KCl, MgCl, CaCl, FeSo, Se, Mg, P, S,…và nhiều nguyên tố vi lượng khác. Chính loại muối này có tác dụng nâng cao khả năng đào thải độc tố, đẩy mạnh quá trình trao đổi chất và lọc máu, hỗ trợ quá trình tiêu hóa (đặc biệt giúp cho việc tiêu hóa tinh bột được dễ dàng và trọn vẹn), đẩy mạnh quá trình hấp thu và kích thích các tế bào trong cơ thể, làm tăng sức dẻo dai, bền bỉ…

Thiếu muối sẽ sinh ra chán ăn, mệt mỏi, suy giảm khả năng đề kháng..v.v…Những người làm việc mệt nhọc ngoài trời, khi bị trúng nắng sẽ xây xẩm mặt mày, chuột rút….nếu cho uống nước muối thì chỉ trong mươi phút sẽ tỉnh táo, khỏe khoắn bình thường. Những người lao động nặng nhọc thì tốt nhất nên them muối để bù vào sự mất mát muối qua mồ hôi.

Mặt khác, muối ăn còn là yếu tố Dương quan trọng đem lại sự quân bình cho cơ thể và sức khỏe con người. Các võ sĩ , vận động viên Nhật Bản trong những ngày chuẩn bị thi đấu thường ăn rất mặn (muối vừng với 50% muối) và các thức ăn dương khác để tăng Dương tính, nâng cao khả năng chịu đựng và phản ứng linh hoạt của cơ thể.

Kinh nghiệm của những người thực hiện chế độ uống ít nước và ăn hơi mặn (tất nhiên là dùng muối thiên nhiên) thì sức khỏe dẻo dai, khả năng chịu đựng tăng hẳn lên, và dù có làm việc mệt nhọc hay ở nơi nóng bức cũng không khát nước và ra rất ít mồ hôi.

Kết luận: Muối ăn thiên nhiên có nhiều tác dụng rất tốt mà muối tinh không thể thay thế được. Mọi tai biến do muối mà Tây y đã tổng kết chỉ là do muối tinh; một loại muối đã bị mất tính chất tự nhiên, đã méo mó, …gây ra mà thôi. Nếu dung muối thien nhiên, không những không có ảnh hưởng xấu mà còn có thể đề phòng hoặc có thể chữa khỏi các bệnh do muối tinh gây ra.

Nhu cầu muối ăn tùy theo trạng thái cơ thể. Nhìn chung người ăn nhiều thịt do có nhiều Natri nên chỉ cần ăn 5-10g mỗi ngày. Người ăn nhiều rau là loại chứa nhiều Kali (mà kali bài xuất Natri) nên phải ăn nhiều muối hơn (20-30g/ngày). Người lao động nặng, ra nhiều mồ hôi nên ăn mặn hơn để bù cho lượng muối đã bị mất…

Trong quá trình phất triển cá thể, mỗi giai đoạn khác nhau cơ thể lại nghiêng về Âm hay Dương. Trẻ con và người già Dương tính hơn nên ăn nhạt hơn; người trưởng thành Âm hơn nên cần ăn mặn hơn để duy trì sự quân bình Âm- Dương của cơ thể.

Chúng ta đã thấy, muối ăn có tầm quan trọng như thế nào đối với sức khỏe và đời sống con người. Vậy mà đáng buồn thay, xã hội hiện đại đã loại bỏ các chất kháng khác, khiến hạt muối từ là chỗ tinh hoa của biển cả, một chỉnh thể toàn vẹn trở thành không đủ tư cách là muối ăn.

Muối Iot hiện nay (là muối tinh trộn với Iot) đã phổ biến và lan tràn sâu rộng khắp thành thị, nông thôn, miền núi xa xôi hẻo lánh.

Từ lâu Giáo sư Ngô Đức Vượng đẫ tìm hiểu vấn đề này và thấy:

Thứ nhất: nếu nghĩ rằng “Toàn dân dùng muối Iot”, “Chỉ mua và bán muối Iot” như các khẩu hiệu, băng rôn treo ở khắp nơi để phòng và chữa bệnh bướu cổ thì: hàng nghìn, hàng chục nghìn năm trước đây loài người không ăn thứ muối đó tỉ lệ người mắc bệnh bướu cổ cao hơn hay thấp hơn ngày nay?

Rất rõ rang rằng, tỉ lệ người bướu cổ trước kia thấp hơn bây giờ rất nhiều và thường chỉ có ở miền núi, vùng đồng bằng và vùng ven biển hầu như không có. Hiện nay bệnh bướu cổ ở miền núi có tăng nhưng không nhiều lắm. Trái lại, ở đồng bằng và ven biển thì bệnh này nhiều len gấp bội.

Phải chăng hàm lượng Iot trong muối tự nhiên(tức là trong nước biển) ngày càng giảm đi? Sự thật thì hàm lượng các chất khoáng trong nước biển ngày càng tăng theo thời gian do nước bào từ lục địa đưa về.

Thứ hai: bệnh bướu cổ tập trung ở nữ giới là những lao động chính trong nông nghiệp. Khám những người này giáo sư thấy họ thường bị bệnh tim, gan hoặc tỳ, thận, phế (đúng như Đông y học cổ truyền đã tổng kết từ mấy nghìn năm trước đây) mà Tây y với những trang thiết bị hiện đại không thể nào phát hiện được.

Vì nội tạng bị bệnh nên sự chuyển hóa trong cơ thể bị rối loạn, khả năng hấp thu Iot suy giảm, buộc tuyến giáp phải tăng cường hoạt động để bù vào sự suy giảm đó (bệnh bướu cổ còn được gọi là bệnh “cường tuyến giáp” là thế).

Rất dễ thấy là, cùng một chế độ ăn uống như nhau nhưng có người bị bướu cổ, nhiều người khác không hề gì. Như vậy đâu phải do thiếu Iot mà là do người bệnh không có khả năng hấp thu Iot.

Do ngành nông nghiệp ngày nay đã lạm dụng quá nhiều thuốc trừ sâu, diệt cỏ, phân hóa học,… trong khi người nông dân lại chưa được trang bị những kiến thức tối thiểu, chưa hiểu biết tác hại của những thuốc độc mà mình sử dụng do vậy đã ảnh hưởng xấu, nội tạng bị suy sụp, từ đó dẫn đến bệnh bướu cổ.

Nguyên nhân sâu xa là vậy nhưg y học hiện đại lại chỉ dựa vào lượng Iot có trong tuyến giáp của người bướu cổ giảm đi mà kết luận rằng bệnh bướu cổ là do thiếu Iot.

Đó là kết luận xuất phất từ nhận thức và tư duy mang nặng tính chất của khoa học hiện tượng.

Điều đáng nói ở đây nữa là, vì chủ trương “Toàn dân dung muối Iot” nên muối tự nhiên bị “bạc đãi” quá đáng: rất bẩn và nhiều cát, sạn! Khiến nhiều người vì sợ bẩn, sợ sạn mà phải ăn muối Iot!

(Trích “Minh triết trong ăn uống của Phương Đông” của Giáo sư Ngô Đức Vượng)

—————————————————————————–

 


Leave a comment

CÁC SẢN PHẨM TỪ THỰC DƯỠNG OHSAWA

TRÀ GẠO LỨT

Công dụng: Điều hòa thân nhiệt, trợ tiêu hóa, tốt gan, làm đẹp da, bồi bổ cơ thể,….

Thành phần: Gạo lứt đỏ rang

Cách dùng: Nấu 1 muỗng trà với 1/3 đến ½ lít nước để sôi 10’ hoặc bỏ vào bình thủy giữ nhiệt chế nước sôi vào hãm. Có thể kết hợp với trà banch hoặc trà đậu đỏ đều được.

Dùng trà này từ 3 tháng trở đi, sẽ có được làn da hồng mịn, đẹp tự nhiên….

—————————————————————————————————–

TRÀ CỦ SEN

(LOTUS TEA)

Công dụng: Trà củ sen làm mát huyết và rất bổ phổi, an thần, gây cảm giác khoan khoái, dễ chịu; phòng trị các bệnh về phổi, ho cảm, viêm phế quản, ho suyễn, lao phổi, u phổi, ho cường tính, …

Cách dùng: chữa ho, bổ phế: bỏ 10-20 trà đun nhỏ lửa 15’, cho thêm 3 lát gừng mỏng(nướng cháy vỏ) bỏ thêm chút muối hầm. Uống nóng xong toát mồ hôi ra là tốt nhất.

Trà củ sen là một thứ trà kiềm dương, rất tốt cho sức khỏe và thiền.

—————————————————————————————————

CHANH MUỐI LÂU NĂM

Thành phần: Chanh ngâm muối 3 năm

Công dụng: Lợi ích cho bệnh viêm họng, ho đàm, bệnh đường ruột, ăn không tiêu.

Cách dùng: Pha làm nước uống hoặc ngậm.

Liều dùng: Mỗi ngày từ 3gr-5gr

—————————————————————————————————–

NƯỚC MƠ MUỐI LÂU NĂM

Công dụng: Trị đầy bụng, ăn không tiêu, mệt mỏi, chán ăn, giải ngộ độc thức ăn, trị rối loạn dịch vị dạ dày, trung hòa các yếu tố âm trong người, giúp gan loại sạch các hóa chất nhân tạo ra ngoài cơ thể, chống lão hóa cơ thể, tăng sức sống,…

 Cách dùng: cho vào nấu với cơm lứt, pha với trà bancha,….và những thức ăn cần thêm gia vị chua.

—————————————————————————————————–

TRÀ SÂM MỸ

 Có tác dụng bổ máu và hoàn lực cho cơ thể một cách nhanh chóng, trị bệnh đau đầu, thiên đầu thống và chứng mệt mỏi, chứng kém ăn mất ngủ, tăng cường sinh lực cho cơ thể, làm sảng khoái tinh thần, điều hòa cơ thể và cân bằng sinh lý, ngoài ra còn đề phòng bệnh lão hóa và kéo dài tuổi thọ cho con người.

 —————————————————————————————————–

 TÍA TÔ RẮC CƠM

Bột lá tía tô ngâm nước mơ muối lâu năm, dùng để rắc cơm, sẽ cung cấp năng lượng lớn hơn là ăn cơm không …rất bổ dưỡng, làm dịu hệ thống thần kinh, giải uất kết, giúp tiêu hóa tốt và hỗ trợ bị cảm lạnh, ho; Tía tô có nhiều sắt, khoáng, vitamin A và đầy đủ diệp lục, làm mạnh dòng máu, chữa thiếu máu,…rất tốt cho thai phụ hoặc những người bị suy nhược thiếu máu.

—————————————————————————————————–

TRÀ XÍCH TIỂU ĐẬU

Thành phần: Xích tiểu đậu.

Công dụng: Tốt cho thận suy, viêm sưng thận, tiểu đường, đau tim,…xem cuốn Y học thường thức trong gia đình.

Cách dùng: Làm trà uống nóng, nấu 3 muỗng canh trà đậu với 1 lít nước. Để sôi hoặc bỏ vào bình giữ nhiệt chế nươc sôi vào hãm. Có thể kết hợp với trà gạo lứt.

—————————————————————————————————–

MƠ MUỐI LÂU NĂM

Thành phần: Quả mơ, lá tía tô, muối

Công dụng: Tốt các chứng đường ruột, ăn chậm tiêu,kiết tả, viêm thực quản,ho, cảm, viêm họng,cứng động mạch, suy nhược thần kinh. Khám phá khoa học của mơ muối chứa khoáng chất protein, nhiều canxium,, sắt và phostpho.

Cách dùng: Kiết tả mỗi ngày 2-3 quả,. Loét dạ dày, ung thư đường ruột mỗi ngày 1 quả,…

Thanh lọc máu huyết tốt, thải các chất độc dư thừa trong cơ thể, lưu thông máu huyết, tăng sức khỏe.

—————————————————————————————————–

BỘT HẠT SEN

Thành phần: Hạn sen lứt rang.

Công dụng: Bổ tỳ, dưỡng tâm, chữa di tinh, mất ngủ, thần kinh suy nhược,…

Cách dùng: Ngày uống từ 10-30gr, có thể pha chung với sữa thảo mộc Kokho

—————————————————————————————————– 

Hạt sen lứt

Hạt sen còn gọi là liên nhục, có vị ngọt, tính mát, tác dụng bổ tâm, bổ tỳ vị, an thần. Thường dùng chữa cơ thể suy nhược, ăn uống kém, mất ngủ, tiêu chảy.

Hạt sen có vị ngọt tính bình, bổ dưỡng an thần; tim sen vị đắng tính hàn, trị sốt cao mê sảng, huyết áp cao; gương sen vị đắng sáp, tính ôn, dùng trị các chứng băng lậu ra máu… Hạt sen là vị thuốc quí, có tác dụng bổ dưỡng lại an thần, đặc biệt dùng để trị các chứng tiêu chảy kéo dài, suy dinh dưỡng.

—————————————————————————————————–

Miso Tương đặc

Công dụng: Tăng cường sinh lực, khử độc cho rau củ, tốt cho tim, tê bại, tiểu đường, mỡ trong gan – máu, tái tạo men ruột, và các bệnh u nhọt,…

Thành phần: Đậu nành, muối hột và nước sạch.

Cách dùng: Ăn với cơm. Cháo, xào rau, nấu canh thay muối, độ đạm cao.

—————————————————————————————————–

HẠT SEN LỨT

Hạt sen có vị ngọt tính bình, bổ dưỡng an thần; tim sen vị đắng tính hàn, trị sốt cao mê sảng, huyết áp cao; gương sen vị đắng sáp, tính ôn, dùng trị các chứng băng lậu ra máu… Hạt sen là vị thuốc quí, có tác dụng bổ dưỡng lại an thần, đặc biệt dùng để trị các chứng tiêu chảy kéo dài, suy dinh dưỡng.

Hạt sen có tác dụng tăng cường tì vị, bảo đảm dinh dưỡng cho toàn thân, điều hòa sự thu nạp thức ăn, tiểu đục và một số bệnh phụ nữ. Trong thế giới thảo dược, ít có loài cây nào mà các bộ phận đều là những vị thuốc quí như cây sen.

Hạt sen có chứa các chất dinh dưỡng như: tinh bột, chất đường, protein, chất béo, canxi, phốt pho, sắt… là thức ăn bổ dưỡng tâm, ích thận, kiện tỳ, những người lao động trí óc quá căng thẳng, tâm thần bất ổn, hay sợ sệt, hay quên nên ăn.

—————————————————————————————————–

MẠCH NHA

Được chiết suất từ mầm lúa mạch. Mạch nha là chất đường do tác dụng của men trong hạt thóc  nảy mầm trên tinh bột của gạo nếp, gạo tẻ, hay một ngũ cốc nào khác, rồi cô đặc lại.

Dùng thay cho đường vào đồ uống,….

Ngày dùng 12 – 1 6g.

Chú ý: Phụ nữ mang đang cho con bú không nên dùng.

—————————————————————————————————–

TRÀ NGẢI CỨU

Trị sán, lãi, đau tim, đau bụng, kinh nguyệt không đều, bị hành kinh, rét lạnh trong người, tiêu thực,…Phụ nữ mang thai tháng thứ 5 trở đi mới uống trà ngải cứu để an thai và sinh con dễ dàng

———————————————————————————————

TRÀ CÀNH

Công dụng: Trà cành dương hơn trà già (Bancha). Nó không chứa cafein, thích hợp cho trẻ em, trà cành kiềm hóa dòng máu, làm khỏe khoắn khi bạn mệt mỏi, làm an thần khi mất ngủ. Nó còn làm nhẹ cơn nôn mửa và viêm dạ dày, viêm thận, nhiễm độc bàng quang, suy nhược thần kinh, bệnh tim, kém tiêu hóa và mệt mỏi tổng quát.

Trà cành thích hợp cho mọi tình trạng sức khỏe

Hương vị thơm ngon, rất dễ uống, màu nước trà rất đẹp

Cách dùng: Dùng một ít trà cành cho vào ấm, đun sôi từ 5-10’ rồi ấm ủ, có thể đun lại lần 2. Đây là loại trà rất úy hiếm, có thể kết hợp với trà Sâm (sâm trắng của Mỹ để tăng cường và phục hồi sức khỏe một cách nhanh chóng)

—————————————————————————————————–

TRÀ BỒ CÔNG ANH

Lọc máu, mát huyết, tăng lực, trị yếu dạ dày, mụn nhọt, ung bướu (đặc biệt là vùng vú và tử cung)

—————————————————————————————————–

TRÀ BANCHA

Trên những cây chè Shan Tuyết cổ thụ (Hoàng Su Phì, Hà Giang) có nhiều lá già (từ 2-10 năm hoặc hơn) vẫn sống trên cây xanh tốt và không bao giờ rụng trừ khi bị sâu ăn hoặc bị chặt cành. Chè Shan là loại chè sạch nổi tiếng thế giới và chỉ có ở 4 nươc, trong đó có nước ta.. Thường mọc ở trên núi cao từ 100m trở lên.

Công dụng: Có nhiều dương tính, làm tăng lực, tăng sức đề kháng, làm khỏe người, chống mệt mỏi, giúp tiêu hóa tốt, làm kiềm hóa axit và tan mỡ thừa trong máu, giảm Cholesterol. Trị rối loạn đường tiêu hóa, dung để xúc rửa mũi, hong, các vết đau, vệ sinh phụ nữ…Uống tra này bạn sẽ không bị mất ngủ, trẻ em cũng dung được.

Nước trà bancha với tương lâu năm hoặc miso chữa các chứng đường ruột, suy nhược thần kinh, các chứng đau thận,…

 Bancha uống với trái mơ muối lâu năm them chút gừng nướng chữa loét dạ dày, làm ăn ngon, ngủ yên.

Cách dùng: vò nát 2 đến 3 là hoặc chỉ 01 thìa cà phê chè vụn vào trong nước đun sôi để từ 10-phút trong bình thủy giữ nhiệt, nên uống nóng. Tìm hiểu thêm trong sách “Phòng và trị bệnh theo phương pháp thực dưỡng Ohsawa”.

—————————————————————————————————–

HẠT KÊ

Tính vị, tác dụng: Kê có vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ thận. Ở Ấn độ, được xem như lợi tiểu và thu liễm. Cốc nha có vị ngọt, tính ấm, có tác dụng tiêu thực hoà trung, kiện tỳ khai vị; cốc nha sao lại tiêu thực; còn cốc nha tiêu (sao cháy) có tác dụng làm tiêu tích trệ.

Kê thuộc loại lương thực thường dùng trong nhân dân. Cũng được dùng làm thuốc chữa lậu nhiệt, ho nhiệt, ho khan.

Ở Ấn độ, người ta dùng ngoài trị thấp khớp và là vị thuốc gia dụng làm dịu các cơn đau do sinh đẻ.

Ở Trung quốc, hạt dùng nấu cháo cho người đau dạ dày và bột các hạt đã rang, pha với nước mật dùng cho trẻ em bị bệnh nhọt. Cốc nha dùng chữa ăn uống không tiêu, bụng đầy miệng hôi, tỳ vị hư yếu; kém ăn; cốc nha sao dùng trị kém ăn; cốc nha tiêu dùng trị tích trệ không tiêu. Liều dùng 9-15g.

Đơn thuốc:

Chữa âm hư háo khát, mỏi mệt bải hoải sau những buổi thức đêm mất ngủ hay lao động, phòng dục quá độ, trong người hấp nóng, ho, mồ hôi trộm, khó ngủ: dùng hạt Kê nấu chè đường ăn thì mát khoẻ, lại sức.

Lượng vitamin B1, B2 có trong hạt kê cao hơn từ 1 – 1,5 lần so với lúa gạo. Ngoài ra trong hạt kê còn có chứa nhiều nguyên tố vi lượng khác như methionine (một amino axit thiết yếu) vì thế hạt kê có tác dụng duy trì tế bào não, tăng cường trí nhớ và làm giảm quá trình lão hóa.

—————————————————————————————————–

GẠO LỨT – HẠT CỦA SỰ SỐNG

Gạo lứt là hạt của sự sống, là ngọc thực, là thuốc quý. Suốt đời chúng ta gắn bó với hạt ngọc; ông cha ta có nhiều nghiên cứu; Y học hiện đại cũng đã chứng minh gạo lứt có nhiều chất dinh dưỡng và nhiều thuốc góp phần trị nhiều chứng bệnh. Do đó chúng ta cần biết sử dụng gạo lứt trong những trường hợp cần thiết để bồi dưỡng cơ thể và để đỡ tốn kém nhiều thuốc men vốn có trong hạt gạo.

Đã có những phong trào sử dụng gạo lứt muối mè và hoa quả khác trong dưỡng sinh. Đã có nhiều trường hợp có kết quả tốt giải quyết được nhiều chứng bệnh, nhưng cũng đã có nhiều trường hợp kết quả không tốt do chủ quan lạm dụng. Phương pháp dưỡng sinh nào cũng hay nếu dùng đúng chỉ định và cũng tai hại nếu vi phạm chỉ định khách quan khoa học.

BS. Lê Minh chuyên nghiên cứu dinh dưỡng Đông và Tây y đã nỗ lực biên soạn tài liệu “Gạo lứt – Hạt của sự sống”. Tài liệu này giúp chúng ta hiểu rõ hơn giá trị của gạo lứt. Trân trọng giới thiệu với bạn đọc và mong được sự góp ý để những hiểu biết thực tiễn khi áp dụng càng phong phú hơn.

—————————————————————————————————–

Hạt mè (vừng)

Bạn có biết là nửa tách hạt mè chứa một lượng can-xi cao gấp 3 lần so với nửa tách sữa không? Không chỉ là một nguồn bổ sung can-xi tuyệt vời, hạt mè còn rất giàu các chất như mangan, đồng, ma-giê, sắt, phốt-pho, vitamin B1, kẽm, vitamin E, protein tốt và chất xơ. Hạt mè có chứa sesamin và sesamolin, hai chất được xem giúp ngừa chứng huyết áp cao và bảo vệ gan khỏi nguy cơ bị ô-xy hóa.

Muốn tìm hiểu thêm về hạt mè, cách sử dụng hạt mè chữa bệnh cho hiều quả mời bạn ghé qua blog:: thucduongohsawa.blogspot.com

———————————————————————————————

BƠ MÈ

Thành phần: Mè rang và muối

Công dụng: Bơ mè chứa nhiều chất đạm thực vật, bồi bổ cơ thể, nhuận tràng, tích huyết, giảm lượng Cholesterol trong máu, chống bệnh xơ cứng động mạch và béo phì. Giữ da đẹp và tóc lâu bạc, tốt cho khí lực, bền gân cốt, sáng mắt.

Cách dùng: Ăn chung với cơm, cháo, bột, bánh mì, bánh tráng lứt nướng, nêm món ăn, pha với nước chấm.

—————————————————————————————————-

ĐẬU LĂNG

Là loại đậu ngon ngọt dễ nấu chín mềm, có chứa chất ức chế Protease có khả năng phòng chống ung thư da, vú và gan,…Dùng nấu cháo, nấu canh, nấu súp,…

———————————————————————————————————————–

BỘT CHÀ RĂNG DENTI

Công dụng: Trắng răng, trị hôi miệng, ngừa sâu răng, các bệnh về răng miệng,…

Cách dùng: Nhúng bàn chải cho ướt rồi chấm 1 lớp bột mỏng đánh răng.

—————————————————————————————————-

DẦU MÈ NGUYÊN CHẤT

– Dầu mè nguyên chất (không tinh chế, không hóa chất tổng hợp) có tác dụng phòng chống xơ vữa động mạch, nhuận trường. Do đó, người lớn. trẻ em dùng ăn hàng ngày rất tốt (chiên, xào, các món ăn rau củ, súp, cháo…không nên đun lửa quá nóng, hạn chế chiên giòn).

– Dầu mè nguyên chất còn có tác dụng chống được các bệnh về mắt, nhờ khả năng sát trùng và nhiều dưỡng chất nên dung thoa lên da mặt sẽ giúp da tươi sang, mịn màng. Thoa lên vết bỏng chống phồng dập, …

—————————————————————————————————–

CỐM GẠO LỨT

Thành phần: Cốm gạo lứt rang vàng.

Công dụng: Làm dương hóa cơ thể, rất tốt cho người bị cảm cúm, viêm đau nhức khớp, trầm cảm,…

Dùng cốm gạo lứt làm lương khô rất tiện lợi.

Cách dùng: dung trong bữa chính, bữa lỡ, ăn chơi,…

—————————————————————————————————–

 CÀ PHÊ THỰC DƯỠNG OHSAWA

Công dụng: Bồi bổ thần kinh, giải mệt, giải cảm, tiêu thực. Có thể dung làm nước uống hàng ngày.

Thành phần: Gạo lứt, nếp lứt, kê, ý dĩ, hạt sen lứt, các loại đậu và mè.

Cách dùng: Mỗi cốc nhỏ cho vào 2 muỗng cà phê bột, chế nước sôi và khuấy tan ra, thêm tí muối hoặc đường thiên nhiên (người bệnh không nên dung đường). nếu làm nước uống hàng ngày thì cho 2 muỗng cà phê nấu với nửa lít nước để sôi 20 phút, để nước trong dần hãy uống.

—————————————————————————————————–

BỘT SẮN DÂY NGUYÊN CHẤT

Loại tinh bột này lợi ích cho các bệnh: đường ruột, thương hàn, chậm tiêu, kiết tả, lao nhiệt, mất ngủ, giải độc, say rượu, …

Trẻ em, người lớn đều dùng tốt.

Nếu giải nhiệt cho cơ thể, lúc trời nóng bức – nhất là vận động ngoài trời nóng hoặc các vận động viên thể thao: Quậy bột với nước sôi để nguội, đem lại sức khỏe dẻo dai.

—————————————————————————————————–

TAMARI NGUYÊN DƯƠNG

Thành phần: Đậu nành, nước, muối

Công dụng: Lọc gan, lọc máu, trợ tim, động kinh, giải cảm, ngất xỉu,  tốt cho bệnh sỏi mật, sỏi thận, mỡ gan, mỡ máu, đau thần kinh, tiểu đường, …tăng cường sinh lực, bổ thần kinh.

Cách dùng: Ăn với cháo, cơm, bánh mì,…mỗi ngày từ 1 đến 2 muỗng súp.

—————————————————————————————————–

TƯƠNG TỎI LÂU NĂM

Thành phần: Tỏi tươi & tương Tamari lâu năm (ngâm ủ 3 năm trở lên).

Công dụng: Giảm cảm cúm, nhức đầu, chóng mặt, ói mửa, khó tiêu, sơ vữa động mạch, tim, lao, tê bại, lưu thong máu huyết, làm tan máu cục, tăng sức đề kháng, tăng thể lực và an thần.

Cách dùng: được dùng như món gia vị, có thể làn nước chấm, uống với trà bancha nóng (lúc cần thiết) hoặc ướp nêm nếm, chiên xào thức ăn,…

—————————————————————————————————–

LÁ CẢI NGÂM MÔNG

SỰ THƯ GIÃN TUYỆT VỜI CHO PHÁI NỮ

Lá cải củ đã được phơi khô, mỗi lần dùng 30gr (hoặc 1 nắm) đun sôi trong nước từ 5-7’ cùng với 1 nắm muối hột,….hòa với nước ngâm ngập mông tới thắt lưng trong nước thật nóng từ 12 -15’. Nếu toát được mồ hôi ra là thành công. Tốt nhất là ngâm trước khi đi ngủ, rất tốt cho mọi bệnh về phụ nữ: khó chịu, căng thẳng, đau lưng, đau đầu, …bệnh của phái nữ. (tìm hiểu thêm trong cuốn sổ tay Ohsawa).

———————————————————————————————

DẦU GỘI ĐẦU

Thành phần: Bồ kết, hà thủ ô, nghệ vàng,…

Công dụng: Làm sạch da đầu, trị gàu, á sừng ở da đầu,….

Cách dùng: Đổ từ 2-4 nắp dầu(tùy người tóc dài hay ngắn, dầy hay mỏng) này với khoảng 200ml nước ấm, rồi gội ngay. Có thể ủ trên đầu từ 5 – 20’ tùy thích để tăng hiệu quả trị gàu và làm sạch da đầu.

———————————————————————————————————————–

CỬA HÀNG THỰC DƯỠNG OHSAWA

Điện thoại: 0906 91 99 64




Leave a comment

ĐẬU ĐỎ- Món ăn bổ dưỡng

Kem, chè, xôi, cháo và cả bánh làm từ đậu đỏ đều rất ngon nhưng làm thế nào để chúng trở thành những bài thuốc quý và phát huy tối đa sự bổ dưỡng thì không phải ai cũng biết. Nhắc đến đậu đỏ chúng ta nghĩ ngay đến hương vị thơm ngon của bánh đậu đỏ hay chè đậu đỏ. Đây là những món ăn yêu thích của phái nữ nhưng nếu biết bản thân đậu đỏ có chứa chất béo, khi kết hợp với một lượng đường lớn như hai món trên thì…Vậy nên, vấn đề ở đây là nên chế biến như thế nào để phái nữ chúng ta vẫn duy trì được món ăn ưa chuộng này?

Theo bác sĩ Nguyễn Công Đức, một người viết rất nhiều sách về y học thì cách giải quyết rất đơn giản: giảm lượng đường khi chế biến với đậu đỏ. Vị ngọt nguyên chất của đậu đỏ vừa được giữ nguyên lại vừa có lợi cho tiêu hoá.

Khi chế biến đậu đỏ với quá nhiều đường trắng, hiệu quả kích thích tiêu hoá của đậu đỏ (khả năng hấp thụ vitamin B1) giảm đi một nửa. Hơn nữa sự kết hợp này còn làm tăng chất béo, gây táo bón và làm các chất độc bị tích trữ lại khiến da trở nên xấu xí.

Bạn có thể thay thế đường kính bằng đường mật hay mật ong thì hiệu quả kích thích tiêu hoá của món đậu sẽ tăng lên gấp nhiều lần.

Sẽ rất tốt khi kết hợp đậu đỏ với các chất tinh bột khác để chế biến thành những món ăn bổ dưỡng như cơm đậu đỏ, xôi đậu đỏ, cháo đậu đỏ, chè đậu đỏ, bánh đậu đỏ….

Thuốc giải độc

Vì trong đậu đỏ rất giàu vitamin B và một lượng lớn thành phần tinh chất kiềm thạch nên đậu đỏ còn có khả năng giải độc cao.

Vỏ đậu đỏ giúp cho nhu động ruột hoạt động tốt nhờ đó loại bỏ các chất cặn bã bám ở thành ruột. Đồng thời các tinh chất kiềm thạch kích thích nhuận tràng bài trừ chất độc.

Xưa nay, đậu đỏ được coi là “cao thủ giải độc”. Nếu bị ngộ độc, bạn hãy cho người bệnh uống ngay một cốc nước đậu đỏ đun với một ít muối, khả năng lợi tiểu sẽ đẩy hết chất độc ra khỏi cơ thể người bệnh. Cũng chính nhờ tác dụng này mà các bác sĩ thường khuyên bệnh nhân bị tê phù, bệnh tim, phù thận…. nên sử dụng đậu đỏ.

Chữa suy nhược cơ thể

Mỗi khi cơ thể mệt mỏi, uống ngay một ly nước đậu đỏ bạn sẽ thấy sảng khoái vô cùng.

Còn nếu bạn cảm thấy cơ thể và trí óc nặng nề, bạn nên ăn một bát canh đậu đỏ mặn để tiêu trừ cảm giác này. Muốn ăn ngọt, bạn có thể cho thêm ít mật ong, nhưng thực sự thì đậu đỏ có vị mặn sẽ hiệu quả hơn nhiều.

Những người bị bệnh khó đại tiểu tiện hay thận yếu cũng nên ăn món ăn này vì món canh đậu đỏ lợi tiểu vô cùng!

Tốt cho phụ nữ mang thai

Các bà mẹ đang mang thai có biết rằng thường xuyên ăn đậu đỏ giúp có nhiều sữa hơn và hormone trong cơ thể cũng được cân bằng hơn không? Nếu biết rồi thì các bạn nên chế biến món ăn bổ dưỡng này nhé!

Đậu đỏ có nhiều tác dụng cho sức khoẻ cho chúng ta. Hãy chế biến món ăn này cho mình và người thân! Tốt nhất là hãy nấu đậu đỏ với vài chiếc lá trúc hay vài miếng thân trúc vì trúc làm đậu đỏ nhanh chín hơn nhiều đấy!